762fd8692509a64a0b9605ef1d6dc698.jpg
Bạn cần biết

Chùa Hà Nội

Chùa ở trại My Động xưa, nay là phường Tân Mai quận Hai Bà Trưng. Chùa nằm trong khuôn viên chữ nhật, bốn bề tường gạch bao quanh. Gác chuông hình vuông cao 6m, 2 tầng, 8 mái như chùa Keo, nóc đắp rồng đuôi cá trông trăng, bờ đao có rồng ngậm, đuôi cong cách điệu hoa lá.

CHÙA NGA MY
Chùa ở trại My Động xưa, nay là phường Tân Mai quận Hai Bà Trưng. Chùa nằm trong khuôn viên chữ nhật, bốn bề tường gạch bao quanh. Gác chuông hình vuông cao 6m, 2 tầng, 8 mái như chùa Keo, nóc đắp rồng đuôi cá trông trăng, bờ đao có rồng ngậm, đuôi cong cách điệu hoa lá. Thượng điện dài 12m, tam bảo có chuôi vò. Chùa có nhiều tượng quý: Phật niệm hoa, A-di-đà trong thế thiền, quan Âm tòng tử… đặc sắc nhất là pho Quan Âm Nam Hải nghìn mắt, nghìn tay. Chùa có 5 bia đá, cổ nhất là bia tạc năm Hông Đức thứ 28 (1497) vào loại hiếm. Văn bia cho biết chùa có từ thời Lý – Trần, bằng tre lá, đến lúc con gái vua Lê Thánh tông ra trụ trì mới xây dựng gạch ngói khang trang (1497). Văn bia còn là tư liệu quý cung cấp về tình hình xã hội và phật giáo thời Lê.

CHÙA BÀ TẤM

Chùa tọa lạc trên khu đất ở hương Siêu Loại, trấn Kinh Bắc thời xưa, nay là thôn Sóc, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm. Chùa thờ Ỷ Lan nguyên phi, tên thật là Lê Thị Mệnh, vợ vua Lý Thánh Tông (1054-1072), được phong hậu năm 1066. Bà đã hai lần tham gia chấp chính: Một lần khi Lý Thánh Tông cầm quân đi bình giặc Chiêm (1069) và lần sau khi Lý Nhân Tông còn nhỏ (1072). Nhân vật lịch sử này được đồng nhất với nàng Tấm trong truyện cổ tích dân gian cho nên chùa có tên gọi là Chùa Bà Tấm. Chùa do bà làm từ thời Lý với tên Sùng Phúc Tự. Sau khi bà mất (1117) dân làng làm nơi thờ phụng. Các kiến trúc của thời Lý đến nay không còn, ngôi chùa mới được làm mới lại khoảng thế kỷ 16 và năm 1982 đã bị đổ. Di vật thời Lý còn lại rất quý là một bệ đá chạm hai đầu sư từ nằm phục trong tư thê vững vàng, dáng dữ tợn, miệng ngậm ngọc, nhân dân quen gọi kính cẩn là "ông Sám". Đây vốn là bệ của tượng phật, cao 1m, ngang 1,3m. Chùa có một thềm bậc cửa dài 1,8m, cao 1,2m, phía trên chạm tượng sấu đang chồm tới, mặt ngoài là con phượng đang múa, cánh xòe rộng, chân phải co lên, chân trái đứng trên một đóa sen nở. Nét chạm mềm mại, tinh tế. Năm 1981, còn tìm thấy viên gạch cổ có niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ 7 (1065) triều Lý.

CHÙA BỒ ĐỀ
Chùa ở thôn Phú Viên, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, cách bờ bắc cầu Chương Dương 500m về phía Nam, nay thuộc quận Long Biên. Tương truyền chùa xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi bao vây thành Đông Quan năm 1427. Sử còn ghi: "Vua làm lầu nhiều tầng ở Dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Bảo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì"… Tên dinh Bồ Đề là do lúc ấy ở giữa sân doanh trại có 2 cây bồ đề. Chùa có tên chữ là Thiên Sơn. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ "đại công đức Bồ Đề " của vua Lê Thái Tổ. Chùa chỉ còn tòa thượng 5 gian xây trên nền cao, dáng bề thế, cổ kính.

CHÙA BỘC

Còn có tên là chùa Sùng Phúc, ở cách Gò Đống Đa vài trăm mét. Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê (1676). Sau trận Đống Đa, chùa bị cháy. Năm 1792, thời Quang Trung chùa được trùng tu lại trên nền cũ làm nơi quy y cho vong hồn quân Thanh.

Đống Đa ghi để lại đây

Bên kia Thanh Miếu, bên này Bộc Am
Trong khi chùa Bộc có pho tượng Đức Ông đặt dưới bức hoành mang 4 chữ "Oai phong lẫm liệt". Sau bệ ngồi của pho tượng có dòng chữ khắc "Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng" và đôi câu đối có thể hiểu nghĩa bóng ca ngợi công khai vua Quang Trung:

Động lý vô trần, đại địa sơn hà lưu đống vũ
Quang Trung hóa Phật, tiểu nhiên thế giới chuyển phong vân
nghĩa là:

Cửa đông không bụi trần, sông núi còn lưu rường cột

Trong sáng hóa nên Phật, cõi đời chuyển nổi gió mây.
Đây chính là pho tượng người anh hùng áo vải Tây Sơn mà nhân dân đã tưởng nhớ, bí mật dựng năm 1846 để thờ, bất chấp nhà Nguyễn phản động đang tìm mọi cách xóa bỏ dấu vết chiến thắng và công lao vẻ vang của Quang Trung Nguyễn Huệ. Đáng quý là trong chùa còn một tấm bia đã tạc năm Quang Trung thứ tư (Nhâm Tý – 1792) ghi lại việc chùa bị cháy và dựng lại sau trận Đống Đa.
Chung quanh chùa Bộc còn có các gò Đống Thiêng, Đầu Lâu, Trung Liệt, núi ốc, núi Cây Cờ, chùa Đông Quang… có liên quan đến chiến thắng lịch sử Đống Đa.

CHÙA CHÂN TIÊN

Chùa nằm trong Ngõ ở phố Bạch Mai, chỗ số nhà 180 rẽ vào. Chùa được dựng năm 1729 do phò mã Trịnh Hợp (hoặc Thập) là em chúa Trịnh Cương làm. Lúc đầu có tên là Liên Tông, đến đời Thiệu Trị để tránh húy mới được đổi thành Liên Phái. Chùa có pho tượng Thích Ca bằng đồng khá đồ sộ, tấm bia khắc từ đời Tự Đức. Đặc điểm kiến trúc với các cây tháp quanh chùa khiến ngôi chùa càng thêm nổi tiếng.
Ngọn tháp đẹp nhất là tháp Diệu Quang ở ngay cổng chùa. Với hình lục lăng, cao 10 tầng, tháp Diệu Quang được xây khoảng giữa thế kỷ 19. Cổ kính là tháp Cứu Sinh, hình vuông với 4 tầng làm bằng đá xanh, dựng giữa một gò đất cao có 9 ngôi tháp ở sau chùa. Đây là nơi táng Trịnh Hợp, sư tổ thứ nhất của chùa.

CHÙA HÀ

Chùa Hà tọa lạc tại thôn Bối Hà, thôn Trung xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm nay thuộc phường Dịch Vọng quận Cầu Giấy.

Tam quan chùa Hà rất đẹp, gác co 3 cấp nâng nhau, đao mái cong vút như bay lên. Quả chuông treo ở đây đúc năm Cảnh Thịnh thứ nhất (1793) thời Tây Sơn, cao 1,3, đường kính 73cm. Quai của quả chuông có đôi rồng đấu lưng vào nhau thành hình cầu vồng cân đối trang trí đẹp. Bài minh khắc trên cả 4 mặt chuông do giáo thụ Nguyễn Khuê soạn có giá trị tư liệu phản ánh tính chất dân chủ, ảnh hưởng chữ Nôm và vấn đề Phật giáo thời Tây Sơn. Chùa tương truyền do một người thợ gốm ở Bối Khê sang trọ làm nồi đất bán, nhờ làm ăn phát tài đã tậu 13 mẫu ruộng cúng vào chùa 7 mẫu, còn 6 mẫu làm công điền bán hoa lợi đóng sưu cho dân nên xóm ấy lấy tên là Bối Hà. Mộ của người thợ gốm còn ở phía sau chùa.

Chùa Hà còn có tên chữ là Thánh Đức Tự từ đời Lê Thánh Tông (1460-1497), nguyên do thời vua còn bé chạy loạn Nghi Đan có lần đã qua lại chùa này trú nhờ. Chùa thờ Phật, nhưng bên cạnh có điện thờ Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải. Hiện nay chùa còn lưu giữ tượng Đức Ông chưa rõ là ai.

Điều đặc biệt ở chùa Hà là được công nhận là Di tích Cách mạng. Nơi đây, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thành ủy Hà Nội tổ chức cuộc họp các đội trưởng tự vệ, đội trưởng thanh niên tuyên truyền xung phong bàn về công tác quân sự chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.


CHÙA LÁNG
Chùa Láng, tên chữ là Chiều Thiền Tự, xây dựng từ thế kỷ 12, đời Lý Thần Tông, ở làng Yên Lãng (Láng) bên bờ sông Tô Lịch, trước thuộc huyện Thanh Trì, sau thuộc huyện Từ Liêm nay là phường Láng Thượng, quận Đống Đa.

Chùa làm trên một khu đất rộng, cây cối um tùm, xưa được coi là "đệ nhất tùng lâm" của Thăng Long (rừng thông đẹp nhất). Đây là nơi tu hành của Từ Đạo Hạnh - Nhà sư nổi tiếng thời Lý. Chùa lập ngay trên nền nhà cũ của cha mẹ ông, tục truyền khi Từ Đạo Hạnh đắc đạo, hóa kiếp ở Chùa Thầy, đầu thai làm con trai Sùng Hiền Hẫu, em vua Lý Nhân Tông. Nhà vua không có con nên lập cháu, con người em làm thái tử và trở thành vua Lý Thần Tông, kiếp sau của Từ Đạo Hạnh.

Trong chùa có nhiều đồ thờ cổ, nhiều tượng Phật, tượng Lý Thần Tông. Đặc biệt pho tượng Từ Đạo Hạnh đan bằng mây phủ sơn bên ngoài, bia đá còn lại tạc năm 1656. Trước đây, chùa còn có cuốn kinh bằng đồng lá của vua Lý thường dùng để tụng niệm. Nay cuốn sách đó đã bị thất lạc.
Hội Láng được tổ chức hàng năm vào ngày 07 tháng 3 âm lịch, trước đây có tục rước kiệu lội qua sông Tô lên làng Dịch Vọng Tiền để thăm mẹ được thờ ở chùa Hoa Lăng.

CHÙA KIM LIÊN

Chùa Kim Liên nằm giữa đê Yên Phụ và Hồ Tây, thuộc thôn Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, nay là phường Quảng An quận Tây Hồ, gần khách sạn Thắng Lợi. Trên tam quan chùa có đề ba chữ to rất đẹp "Kim Liên Tự" có nghĩa là chùa sen vàng.

Theo truyền thuyết, chùa vốn là Đại Bi tự, xây dựng năm 1639 trên nền cũ của cung Từ Hoa, nơi con gái vua Lý Thần Tông ở cùng cung nữ trông dâu nuôi tằm đầu thế kỳ 12. Nơi đây sau thành trại tằm nên có tên là Nghi Tàm. Chùa còn có thời kỳ gọi là Đống Long. Năm 1771, thời Lê, chúa Trịnh Sâm sai quan quân dỡ chùa Bảo Lâm ở phía Tây Thăng Long đem về tu sửa thêm vào chùa đặt tên mới là Kim Liên. Năm Quang Trung thứ 5 (1792) chùa được tu bổ lại và có dáng vóc như ngày nay. Chùa kiến trúc theo kiểu chức tam quan, quy chế rất cổ. Bên ngoài là tam quan, một công trình kiến trúc có giá trị. Nếp chùa thứ nhất và thứ nhì trông về hướng tây, riêng nếp thứ ba lại áp lưng vào nếp thứ nhì, quay mặt về hướng đông. Ba nếp mái kéo song song bố cục kiểu "Trùng thiềm điệp ốc".

Chùa có nhiều mái đao cong đẹp, nhiều núi giả, cây chen lá, lá chen hoa tạo nên phong cảnh tao nhã, ngoạn mục. Trong các pho tượng chạm trổ tinh vi có một pho đứng đội mũ miện, cầm hốt, mặc áo cổ tràng, râu mày như vẽ, chân không mang giày. Có người cho là tượng Trịnh Giang. Đáng chú ý nhất là tượng Quan âm Nam Hải 42 tay, các bàn tay xếp so le rất tinh xảo. Tượng cao 1,2m đặt trên tòa sen gỗ hình lục lăng. Lại có cả tượng Tôn Ngộ Không gỗ phủ sơn cao 1,1m khá sinh động. Nghệ thuật điêu khắc ở chùa Kim Liên mang tính hỗn hợp thần phật, mang dấu ấn của nhiều thế kỷ từ 16 đến 19. Bức hoành "Hoằng Uốn" (đạo lý sâu rộng) làm năm 1870.

Kiểu kiến trúc Kim Liên 2 năm sau được áp dụng thành công hơn ở chùa Tây Phương, Thạch Thất Hà Tây (1794

CHÙA NGŨ XÃ

Chùa có tên chữ là Thần Quang tự hoặc Phúc Long tự, ở giữa phố Ngũ Xã nằm ngang trên bán đảo, bên hồ Trúc Bạch. Chùa của làng đúc đồng này xây dựng từ thế kỷ 18, bên cạnh thờ Phật là thờ ông tổ nghề Nguyễn Minh Không. Trong chùa có pho tượng Di Đà, tuy mới đúc xong năm 1952 nhưng là một trong những pho tượng lớn nhất ở nước ta. Tượng cao 3,95m, khoảng cách hai gối là 3,6m, chu vi tượng 11,6m, nặng tới 10 tấn đồng. Tòa sen đỡ tượng có 96 cánh, nặng 1,6 tấn. Đồng để đúc pho tượng lớn này, ngoài khách thập phương gom góp còn có cả những pho tượng của Pháp mà nhân dân Thủ Đô đã kéo đổ xuống sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.